Đại hội Đảng bộ tỉnh Bến Tre nhiệm kỳ 2020 – 2025 đề ra mục tiêu phấn đấu đưa Bến Tre trở thành tỉnh phát triển khá khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Theo báo cáo kết quả tình hình kinh tế Bến Tre cuối năm 2021 có nhiều chuyển biến. Đa phần vì ảnh hưởng của covid 19 mà chưa hoàn thành chỉ tiêu đặt ra.

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ BẾN TRE TRONG SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

1. Sản xuất nông nghiệp

a. Trồng trọt

Trong kỳ báo cáo, người trồng lúa trên địa bàn tỉnh tập trung chăm sóc vụ lúa thu đông năm 2021 và vụ lúa mùa năm 2022. Ở lúa vụ thu đông năm 2021, các huyện đã xuống giống ước khoảng 10.520 ha (năm trước không canh tác vụ thu đông mà chuyển sanh vụ đông xuân sớm). Phần lớn diện tích lúa đang trong giai đoạn làm đòng, thời tiết thuận lợi nên cây lúa phát triển tốt. Ở vụ mùa năm 2022 (vùng tôm – lúa) các huyện có canh tác đã thực hiện xuống giống ước khoảng 5.005 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 0,4%, phần lớn diện tích đang giai đoạn làm đòng và trỗ bổng, lúa phát triển tốt. Kinh tế Bến Tre về nông nghiệp đang có tiến triển tốt

kinh tế bến tre về nông nghiệp

Cây dừa: Diện tích dừa tiếp tục tăng nhẹ so cùng kỳ nguyên nhân là do một số diện tích cây trồng khác không hiệu quả hoặc không còn phù hợp với vùng canh tác được người dân chuyển sang trồng dừa vì cây dừa dễ trồng và ít tốn công cũng như chi phí chăm sóc. Tổng diện tích dừa toàn tỉnh ước tính đến nay là 77.188 ha, chiếm 74,33% trong tổng diện tích cây lâu năm và tăng 4,32% so cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng dừa trong tháng toàn tỉnh ước khoảng 55.449 tấn, tăng 3,43% so với cùng kỳ năm trước, lũy kế đến tháng báo cáo ước khoảng 608.542 tấn, tăng 2,12% so cùng kỳ. Sản lượng tăng chủ yếu là sản lượng dừa xiêm uống nước. Tình hình dịch hại sâu đầu đen: Toàn tỉnh đã ghi nhận 593,3 ha bị nhiểm sâu đầu đen. Sau khi thực hiện các biện pháp phòng trừ hóa học và sinh học, đến nay đã có 111,1 ha đã được phục hồi.

b. Kinh tế Bến Tre trong chăn nuôi

kinh tế bến tre về chăn nuôi

Tình hình chăn nuôi lợn trong tháng không thuận lợi giá lợn hơi tiếp tục giảm mạnh, trong tháng báo cáo giá lợn hơi chỉ khoảng 44 – 46 nghìn đồng/kg, giảm từ 26 – 28 nghìn đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Với mức giá như hiện nay nhiều hộ chăn nuôi phải chịu lỗ vốn. Với tình hình hiện thì việc tái đàn trong thời gian tới sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Tổng đàn lợn (tính cả lợn con chưa tách mẹ) toàn tỉnh hiện có 440.350 con, so cùng kỳ tăng 10,71% (tương ứng tăng 42.588 con). Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng trong tháng ước tính được 7.620 tấn, tăng 0,93% so với cùng kỳ, lũy kế đến nay được 68.260 tấn. Về tình hình dịch bệnh: Trong tháng báo cáo, trên địa bàn tỉnh phát sinh 01 ở dịch tả lợn Châu Phi ở hộ chăn nuôi thuộc xã Phước Mỹ Trung, huyện Mỏ Cày Bắc với tổng số chết và tiêu hủy 32 con/trọng lượng tiêu hủy 388 kg. Lũy kế đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra tại 02 ổ dịch tả lợn Châu Phi ở 02 hộ chăn nuôi ở huyện Mỏ Cày Nam và Mỏ Cày Bắc, với tổng số lợn mắc bệnh là 613 con (chết 17 con); tổng số chết và tiêu hủy 613 con/trọng lượng tiêu hủy 35.013 kg. Đến nay, cả 02 ổ dịch đã qua 21 ngày, công tác tiêu độc chống dịch đã thực hiện kết thúc với tổng số hóa chất sử dụng 12.557 lít (trong đó, huyện Mỏ Cày Nam 10.067 lít; Mỏ Cày Bắc 2.490 lít). Nhìn chung, tình hình kinh tế Bến Tre về chăn nuôi giảm so với cùng kỳ năm trước vì dịch bệnh.

2. Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới trên địa bàn tỉnh không phát sinh, chủ yếu là quản lý, chăm sóc rừng và trồng cây phân tán. Tổng số cây phân tán trồng đến nay ước được 699 nghìn cây các loại. Tình hình khai thác các sản phẩm lâm nghiệp diễn ra thường xuyên do người dân tận dụng khai thác nhằm phục vụ nhu cầu trong việc xây cất, sửa chữa nhà ở, chuồng trại chăn nuôi,… Cụ thể: gỗ khai thác trong tháng ước được 170 m3, lũy kế được 2.433 m3, giảm 0,9%, củi khai thác 1.500 ste, lũy kế được 20.397 ste, giảm 10,7% so cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác ít nguyên nhân do trong kỳ không có tỉa thưa củi rừng trồng và cây phân tán tự mọc ngày càng ít dần nên sản lượng khai thác giảm.

3. Thủy sản

Tổng sản lượng thủy sản ước thực hiện trong tháng là 41.271 tấn, tăng 8,41% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu tăng ở sản lượng khai thác biển. Lũy kế từ đầu năm đến nay tổng sản lượng thủy sản ước đạt 479.339 tấn, giảm 1,11% so cùng kỳ.

a. Kinh tế Bến Tre trong chăn nuôi thủy sản

thủy sản

Nuôi tôm: Diện tích nuôi tôm sú trong tháng báo cáo ước tính khoảng 705 ha, giảm 2,08% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tôm sú thu hoạch trong tháng ước đạt 110 tấn, tăng 7,84% so với cùng kỳ năm trước và lũy kế đến nay đạt 1.934 tấn, giảm 14,65%. Nguyên nhân do diện tích nuôi tôm sú thâm canh – bán thâm canh ngày càng giảm dần do người nuôi dân chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng có loại tôm này thời gian sinh trưởng ngắn hơn, hiệu quả kinh tế cũng cao. Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng trong tháng báo cáo ước tính khoảng 1.135 ha, tất cả đều là diện tích nuôi thâm canh, siêu thâm canh, so với cùng kỳ năm trước tăng 2,07%. Sản lượng tôm thu hoạch trong tháng ước đạt 10.296 tấn, tăng 26,8% so cùng kỳ năm trước và lũy kế đến nay đạt 72.046 tấn, tăng 6,97% so cùng kỳ. Sản lượng nuôi tăng cao là do môi trường nuôi thuận lợi, nâng cao năng suất nuôi trồng nhất là áp dụng mô hình nuôi tôm siêu thâm canh, thả mật độ rất cao, bên cạnh đó người dân cũng thận trọng trong việc chọn con giống, lựa chọn thời điểm thả nuôi do đó dịch bệnh được kiểm soát tốt, tôm nuôi sinh trưởng và phát triển tốt, tỉ lệ hao hụt trong quan quá trình nuôi giảm thấp.        

Xem thêm: Chung cư Hưng Phú Bến Tre Fancy Tower

5/5 - (1 bình chọn)